love
non
Hạnh Phúc Quanh Ta

Archive for the ‘Việt Nam Quê Huơng Tôi’ Category

TiCoNuong ASKED :

Chiếc nón lá là người bạn thủy chung, gần gũi của người phụ nữ Việt Nam . Chiếc nón đã được chạm khắc trên những cổ vật như trống đồng Ngọc Lũ, trên thạp đồng Đào Thịnh vào 2500-3000 năm về trước.
Theo sự phát triển của lịch sử qua các thời đại, nón cũng có nhiều biến đổi về kiểu dáng và chất liệu. Lúc đầu khi chưa có dụng cụ để khâu thắt, nón được tết đan. Còn loại nón khâu như ngày nay xuất hiện phải nhờ đến sự ra đời của chiếc kim, tức là vào thời kỳ người ta chế luyện được sắt (khoảng thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên).

Nguyên liệu làm nón không phức tạp. Ở nơi nào cũng vậy, muốn làm được một chiếc nón phải dùng lá của một loại cọ nhỏ mọc hoang để lợp, dùng một loại sợi rất dai lấy từ bẹ cây móc (ngày nay người ta thường dùng sợi chỉ nilon) để khâu và tre làm vành. Tàu lá nón khi đem về vẫn còn xanh nhăn nheo, được đem là bằng cách dùng một miếng sắt đốt nóng, đặt lá lên dùng nắm giẻ vuốt cho phẳng. Lửa phải vừa độ, nếu nóng quá thì bị giòn, vàng cháy, nguội quá lá chỉ phẳng lúc đầu, sau lại nhăn như cũ. Người ta đốt diêm sinh hơ cho lá trắng ra, đồng thời tránh cho lá khỏi mốc.

Tre chọn ống dài vuốt nhọn, gác lên dàn bếp hong khói chống mối mọt, dùng làm vòng nón. Nón Chuông (làng nón nổi tiếng Việt Nam ở làng Chuông, huyện Thanh Oai – Hà Nội) có 16 lớp vòng. Con số 16 là kết quả của sự nghiên cứu, lựa chọn qua nhiều năm, cho đến nay đã trở thành một nguyên tắc không thay đổi. Nhưng vẻ đẹp của chiếc nón chủ yếu nhờ vào đôi bàn tay khéo léo của người thợ tạo nên. Những mũi kim khâu được ước lượng mà đều như đo. Những sợi móc dùng để khâu thường có độ dài, ngắn khác nhau. Muốn khâu cho liên tục thì gần hết sợi nọ phải nối tiếp sợi kia. Và cái tài của người thợ làng Chuông là các múi nối sợi móc được dấu kín, khiến khi nhìn vào chiếc nón chỉ thấy tăm tắp những mũi khâu mịn màng.

Các cô gái Việt Nam chăm chút chiếc nón như một vật trang sức, đôi khi là vật để trao đổi tâm tư tình cảm của riêng mình. Người ta gắn lên đỉnh của lòng nón một mảnh gương tròn nho nhỏ để các cô gái làm duyên kín đáo. Công phu nhất là vừa vẽ chìm dưới lớp lá nón những hoa văn vui mắt, hay những hình ảnh bụi tre, đồng lúa, những câu thơ trữ tình, phải soi lên nắng mới thấy được gọi là nón bài thơ.
Trong nghệ thuật, tiết mục múa nón của các cô gái với chiếc áo dài duyên dáng thể hiện tính dịu dàng, mềm mại và kín đáo của người phụ nữ Việt Nam .

Cùng với áo dài, áo cánh, váy lĩnh, yếm đào, thắt lưng bao… chiếc nón được coi là một thứ phục trang truyền thống của phụ nữ Việt Nam . Nón có nhiều loại, nón chóp nhọn đầu, nón thúng rộng vành, nón ba tầm như nón thúng nhưng mảnh mai hơn… tất cả đều để che chắn cho những con người sống trên một dải đất nắng lắm mưa nhiều. Ngoài chức năng che nắng, che mưa, chiếc nón còn hướng tới mục đích làm đẹp cho con người và phù hợp với cảm quan thẩm mỹ của người Việt: đẹp một cách tế nhị, kín đáo.
Dưới vành nón, đôi mắt, nụ cười, má lúm đồng tiền, những sợi tóc mai, cái gáy trắng ngần của cô gái dường như được tôn thêm nét duyên dáng, kín đáo mà không kém phần quyến rũ… Người ta đội nón làm đồng, đi chợ, chơi hội.
Con người Việt Nam có tình cảm sâu sắc và gắn bó với chiếc nón lá giản dị dù gặp nó ở bất cứ đâu trên trái đất này.

(theo Nón lá – vnquehuong.net)

2 April 2010 at 11:09

Posted by TiCoNuong - Category: Việt Nam Quê Huơng Tôi

Comments: 0 Comments


Bến Chiều

Bến Sông Xưa

Con Sông Quê Tôi

Nhà Trên Sông

Sông Nước Hữu Tình

Ven Sông

26 July 2009 at 19:46

Posted by TiCoNuong - Category: Việt Nam Quê Huơng Tôi

Comments: 0 Comments

L’áo dài est une robe traditionnelle vietnamienne.

Dans le sud du Viêt Nam, on prononce ao yaï et dans le nord ao zaï.

Cette robe est l’uniforme des élèves et des étudiantes, des hôtesses de l’air, etc… Il est porté par la quasi-totalité des femmes lors des cérémonies officielles, des conférences ou encore des mariages.

L’áo dài est composé de deux pièces : une robe et un pantalon de soie blanche. La robe peut être unie et répondre à un certain code de couleur, pour les uniformes (blanche pour les étudiantes, bordeaux pour les hôtesses de la Vietnam Airlines, etc.), ou être multicolore et posséder de nombreux motifs, faites en différents tissus dans les autres cas.

Les éléments qui restent quasi inamovibles et qui constituent la base du costume sont :

- le pantalon blanc, sans lequel la robe serait vraiment très osée car la robe est fendue des deux côtés jusqu’au-dessus du bassin ;

- le col mao ;

- la fermeture qui se fait discrètement sur le côté ;

- les dimensions qui correspondent au plus près au modèle qui le porte (un áo dài n’est pas ample).

En 1975, après la réunification du Viêt Nam, il était rare de le voir car il semblait inapproprié au travail. Il connaît une résurgence depuis les années 1990.

Les premières versions de l’áo dài remontent aux années 1700 et étaient copiées sur les costumes impériaux chinois. Il existait alors une version pour homme et une version pour femme. La version homme n’est désormais utilisée que dans de très rares occasions comme lors du mariage (mais pas pendant toute la cérémonie) ou les funérailles.

La version actuelle n’est pas apparue avant 1930 quand un créateur de mode, Cat Tuong, plus connu des Français sous le nom de Monsieur le Mur, le modifia : il rallongea le bas, le fit être plus près des courbes du corps, et mit les boutons de fermeture sur le côté.

(Source : wikipedia)

10 June 2009 at 18:23

Posted by TiCoNuong - Category: Việt Nam Quê Huơng Tôi

Comments: 3 Comments