love
non
Hạnh Phúc Quanh Ta
TiCoNuong ASKED :


Sáng tác: Nguyễn Văn Chung
Ca sĩ : Nam Cường

Vòng đu quay cứ một phút giây lại càng bay lên cao
Dường như với tới muôn đám mây đang hoài trôi lững lơ …

Những ngọn đèn đường càng thêm nhỏ bé
Cả thiên đường ngàn sao lấp lánh
Cả bầu trời … giờ chỉ riêng cho anh và em.

Rồi bàn tay khẽ nắm lấy nhưng vô tình không ai hay
Rồi lòng anh khẽ ấm áp như ly cà phê sữa thơm
Ngồi bên em mà tim bối rối, thời gian ơi đừng trôi nhanh quá
Để anh giữ lấy từng phút giây được bên em.

Và anh chỉ muốn nhìn em mãi thôi
Cứ ngây thơ hiền như ánh trăng
Chỉ là do ánh mắt một người
Làm cho anh ngây ngô cả đêm.

Và anh vẫn muốn được ôm lấy em
Để mãi mãi chở che suốt đời
Có thể nào tình sẽ không bao giờ đổi thay?

26 July 2010 at 09:27

Posted by TiCoNuong - Category: Thư Giãn

Comments: 0 Comments

Mẹ tôi đã tặng một món quà khi tôi còn trẻ. Đó không phải là một thứ gì có thể cầm nắm được, nhưng nó đã khắc sâu trong ký ức của tôi.

Ngày đó tôi mới lên sáu. Đó là một sáng thứ bày nóng ngột ngạt năm 1946, mẹ tôi cho anh trai Billy và tôi hay rằng chúng tôi sắp được đi đến bãi biển ở đảo Coney một ngày. Những bức tường của căn hộ chúng tôi ở Nữu Ước này hút nhiệt giống những lò nung gạch, nên tôi vô cùng phấn khởi với tin mừng đó.

Đó là một chuyến đi dài một tiếng đồng hồ trên tàu điện ngầm đến bãi cát trắng mịn như nhung. Bãi biển thật đông người _ hơn một trăm ngàn người khăn gói tụ tập cùng nhau trên bãi cát.

Chúng tôi tiến gần mép nước và trải tấm bạt mang theo. “Không hoàn hảo lắm, nhưng cũng được”, mẹ nói. Chúng tôi cởi bỏ áo ngoài chỉ còn lại áo tắm. anh tôi nhào xuống nước. Một người bán kem đi qua với một chiếc thùng thật to trên vai: “Kem đây”, người bán kem rao.

Kem, tôi nghĩ, ngay tại đây trên bãi biển! Nhưng giá bao nhiêu nhỉ? Với mẹ, tốt hơn hết là phải biết giá cả trước khi hỏi xin.

Người bán kem đã đi được nửa đường từ dưới bãi lên trên lối đi. Tôi chạy theo sau, len lỏi chạy vòng và chen qua đám đông, hất cả cát. Cuối cùng tôi đã đuổi kịp người bán kem và kéo ống tay áo của ông. “Bao nhiêu một chiếc hả ông”. “Kem đặc biệt cho cháu là mười xu”. “Mười xu! Trên phố chỉ có 5 xu thôi”. “Nhưng đây đâu phải là trên phố, đây là bãi biển mà cháu”

Mẹ chẳng bao giờ tiêu 10 xu cho một que kem. Thất vọng, tôi cúi đầu và bước đi về chỗ tấm bạt của mình. Từng người và từng tấm bạt trên bãi cát đều khác nhau, tuy nhiên mọi người và mọi thứ dường như giống nhau. Có hàng ngàn người đi bộ, chạy, đứng, ngồi, ném những quả bóng. Tôi cố nhìn xuyên qua những khoảng trống giữa họ nhưng tôi không thể nhìn thấy anh tôi và mẹ.

“Nếu con bị lạc,” mẹ đã bảo tôi “hãy đi đến chỗ lần cuối cùng chúng ta ngồi với nhau và đợi ở đó”

Chỗ cuối cùng đó là tấm bạt của chúng tôi. Nhưng nó ở đâu? Có ai thấy không? Tôi có thể hỏi người lạ không khi mẹ bảo không bao giờ được làm như thế? Tôi hãi hùng khi nghĩ đến một tình huống thật tồi tệ: Điều gì sẽ xảy ra nếu tôi không bao giờ gặp lại mẹ lần nữa? Tôi bắt đầu run rẩy.

Tôi nhìn thấy chiếc cầu thang gỗ phía bên trái, có lẽ chúng tôi đã theo lối đó đi xuống bãi biển. Thế nhưng rồi tôi lại thấy vô khối các cầu thang nằm theo mọi hướng.

Tôi chạy từ tấm bạt này đến tấm bạt khác nước mắt chảy ròng ròng trên má. Đôi chân tôi cháy bỏng vì cát nóng.

Bỗng nhiên tôi thấy mình đang ở trên những bậc thang, tôi quyết định dừng lại. Nhưng những bậc thang cũng nóng như cát vì vậy tôi chạy xuống bóng mát ở bên dưới lối đi bằng gỗ.

Khi tôi đứng ngây như phỗng ở đó, tôi nhớ lại tất cả mọi điều tôi đã từng làm với mẹ, những lần đi lễ nhà thờ, tản bộ trong công viên hoặc lắng nghe radio. Ý nghĩ không bao giờ nhìn thấy mẹ lần nữa đã làm nhói tim tôi. Khi khóc, tôi nghĩ: Mẹ ơi, con hứa sẽ ngoan nếu như mẹ trở về với con.

Thế rồi, tôi thấy mẹ. Mẹ đang nắm tay Billi, mặt cau có và mắt bừng bừng. “Mẹ!” tôi hét vang.

Mẹ dừng lại, vẻ nghiêm nghị, ánh mắt nghiêm khắc bắt đầu dịu đi. Mẹ đã nhìn thấy tôi khi tôi chạy trong nắng nóng, và tôi nhìn thấy nụ cười nở dần trên khuôn mặt mẹ mà tôi không bao giờ quên được _ một nụ cười thuần hậu của sự độ lượng bao dung và mừng rỡ. Tôi ôm chầm lấy mẹ. Nụ cười dường như muốn nói. “Cuối cùng mẹ đã tìm thấy con” . Mẹ như ngập trong hạnh phúc khi dang vòng tay đón lấy tôi đang chạy đến mẹ. Thật xúc động biết bao, thậm chí ngay lúc này, khi nhớ lại nụ cười của mẹ, dù đã quá nhiều năm trôi qua sau đó.

Thế nhưng, từ đó về sau, càng lúc càng hiếm lý do để mẹ cười bởi vì cuộc sống của mẹ không còn tươi sáng khi chúng tôi lớn hơn. Và tôi là một trong những gánh nặng chính mà mẹ phải mang.

Gia đình tôi phải chịu một cú đòn chí mạng. Cha tôi, một tài xế xe tải, từng là một người đàn ông khỏe mạnh, cho đến một ngày, không thể hiểu nổi, cuộc đời cha tôi đã thay đổi. Mẹ trở về nhà và nhìn thấy cha đang ngồi trên ghế, cứng đơ như thể được đúc trong thạch cao. Cha không thể nói hay cử động được. Cha tôi bị mắc chứng bệnh rối loạn tâm lý nặng, và cha đã được đưa vào viện tâm thần, nơi cha đã sống những ngày còn lại của cuộc đời.

Mẹ tôi gây dựng cho tôi và Billy bằng mọi cách tốt nhất mà bà có thể làm, tìm những công việc lặt vặt để kiếm thêm tiền. Vậy mà không có ngày nào tôi không cầu nguyện cho bố tôi hết bệnh trở về. Không có một người cha để nói cho tôi biết tôi là ai, chỉ bảo tôi phải hành động như thế nào và đang kỳ vọng điều gì nơi tôi. Tôi cảm thấy bơ vơ, giống như ngày bị lạc trên bãi biển. Tuy nhiên, lần này, tôi đã lạc lõng nhiều năm trời.

Tôi tìm kiếm hình dáng một người cha và dễ dàng lạc vào trong đám du côn ở khu đông Nữu Ước. Người ta sợ chúng. Chúng có thể đánh nhau vì một lời vô tình hay một cái liếc mắt bóng gió. Chúng ăn cắp nhứng gì chúng muốn. Tôi muốn giống chúng, thế là tôi được chúng thích và chấp nhận.

Một ngày nọ, tôi tót lên một chiếc xe ăn cắp cùng với một gã tên Jimmy, ngày khác tôi đánh lộn với thằng Vinny vì nó không thích tôi “đá lông nheo” với con bồ của nó. Tiếp theo đó, tôi đã hút một điếu cần sa dài chuếnh choáng với một thằng tên Frankie.

Trong khi đó, ở trường, tôi luôn làm giáo viên bực tức. Tôi nói chuyện huyên thuyên. Tôi vẽ lung tung trong lớp. Khi tôi 14 tuổi, một cô giáo đến nhà gặp mẹ tôi: “Em nó không đi học hơn 2 tháng nay rồi”.

Mẹ nhìn tôi, nhận ra rằng tôi đã nói dối mẹ mỗi buổi sáng suốt ngần ấy thời gian. Tôi thấy một giọt lệ lớn dần nơi khóe mắt mẹ, nhưng tôi biết mẹ sẽ không khóc. Không thể khóc ở đó, trước mặt một người lạ.

Một ngày không lâu sau đó, tôi đứng trước thềm cửa với mẹ, thấy 2 viên cảnh sát chạy vào khu nhà bên cạnh và dẫn ra một thằng bé tên Pinhead. Nó chỉ mới 16 tuổi nhưng đã tham gia vào vụ cướp. Mẹ nó bước lầm lũi theo sau.

Mẹ gần như rơi lệ khi nhìn người phụ nữ vô phúc ấy. Rồi mẹ thở dài, ngước lên trời và nói như nói với chính mình: “Thượng đế đã quá khắt khe với các bà mẹ, khi ban phát và mang đi những đứa trẻ”.

Trong khi tôi là nguyên nhân những đau khổ của mẹ thế mà mẹ chẳng nhận được ở tôi một lời nào xin lỗi. Tôi cũng không chịu rời bỏ con đường của mình. Cuối cùng vì trốn học thường xuyên nên tôi đã nghỉ học ở tuổi 15.

Chẳng bao lâu tôi đã góp cho gia đình số tiền ít ỏi nhận được từ công việc phân phối hoa cho một nhà trồng hoa và tân trang đồ đạc cho một người bán đồ cũ.

Vậy mà, nhiều đêm tôi đã không trở về nhà. Tôi thường xuyên bê trễ công việc. Vài lần tôi say rượu và phá phách nhà cửa. Một người hàng xóm nói với mẹ là tôi dùng hê-rô-in. Nhiều lần, những hành động của tôi làm cho mẹ lo lắng và khổ sở. Vậy mà mẹ luôn ở bên cạnh tôi. “Con hiểu mọi việc hơn mẹ, con có thể làm được tốt hơn”. Mẹ nói.

Thế rồi một ngày khi tôi 16 tuổi, tôi đánh lộn và bị bắt. Mẹ đã van nài một người hàng xóm là luật sư can thiệp mà không tốn tiền. Luật sư nói với thẩm phán rằng tôi muốn đăng lính và viên thẩm phán cho qua mọi việc.

Đó là một dịp may cho tôi, vì tôi đã xa rời được môi trường đầy cạm bẫy và bước vào một thế giới của kỷ luật và trách nhiệm hẳn hòi. Suốt ba năm trong quân ngũ, tôi đã có thời gian kiểm điểm lại đời mình, những ý nghĩ của tôi luôn hướng về mẹ.

Cuối cùng, bình minh cũng soi sáng đời tôi, sau khi tôi đã gây ra cho mẹ biết bao nhiêu lần nhói tim_ và quá ít ỏi lần tôi cảm thông với hoàn cảnh thống khổ và sự chịu đựng của mẹ. Những thử thách tàn nhẫn mà mẹ đã đương đầu lại tái hiện trong tôi.

Khi cha tôi rời nhà, hơn cả tôi, mẹ đã phải chịu nỗi cô đơn cùng cực. Không có một vật dụng, tài sản nào trong nhà mà không ghi dấu của cuộc hôn nhân đầy hứa hẹn, chứa đựng những hồi ức của thời son trẻ. Và khi phải lao động cật lực, mẹ vẫn ngẩng cao đầu và truyền đạt cho tôi một nhân sinh quan _ một trăm tia sáng nhỏ đã dẫn lối đi xuyên suốt con đường đời. Mỗi tuần mẹ mang một đống sách từ thư viện về và đọc cho chúng tôi nghe. Mẹ dạy cho chúng tôi những bài học bà đã học được khi trưởng thành trong Thế chiến thứ nhất. Những bài học của mẹ chỉ là những câu nói đơn giản nhưng đầy sâu sắc. “Hãy trung thực, và hãy mặc chiếc áo sạch”, mẹ thường nói thế bất cứ khi nào có sự bất đồng nảy sinh. “Sự trung thực sẽ được ghi vào trong cuốn sổ cuối cùng và giá trị nhất trước cửa thiên đàng đấy”

“Và nhớ là” mẹ thêm vào, “họ sẽ luôn luôn nghĩ tốt hơn về con khi con mặc chiếc áo sạch sẽ.”

Mẹ không mong muốn gì hơn là tôi và anh tôi trở thành những người đàn ông đàng hoàng và trách nhiệm. Nhưng tôi đã nổi loạn và coi thường những ước mơ của mẹ. Cuối cùng, gần như quá muộn, tôi đã biết xấu hổ.

Nhiều năm trôi qua, tôi lại trở về căn hộ ở Nữu Ước. Tôi biết mình sẽ không sa ngã với những người xấu, dù vậy tôi cũng không dám chắc mình sẽ tiến đến đâu. Mẹ rất lo lắng cho tôi.

Một ngày nọ khi thấy bản thông báo tuyển người của Sở Cứu Hỏa. thành phố Nữu Ước, tôi đã nộp đơn. Nơi tôi ở, việc trở thành một viên chức cảnh sát hay là lính cứu hỏa được ghi dấu như một thành tựu rực rỡ và đầy ý nghĩa của xã hội. Đối với tôi, đó là một cơ hội thực sự bắt đầu trong đời. Tôi tự hỏi không biết mình có đạt được hay không nhưng tôi biết rằng đây là lúc phải cố gắng.

“Chúc con may mắn”, mẹ nói, đó là điều mẹ thường nói bất cứ khi nào tôi ra ngoài. Nhưng lần này mẹ thêm vào “Hãy tập trung chú ý, con nhé”

Tôi đã chú ý. Không lâu sau đó tôi được thấy mình trong hội trường của một toà nhà, là một trong nhóm gồm 200 người, chúng tôi giơ tay cao tuyên thệ. Mẹ đang ngồi dưới những dãy ghế phía sau, thỉnh thoảng tôi lại quay ra sau để nháy mắt với mẹ. Mỗi người chúng tôi được bước lên phía trước và nhận phù hiệu.

Khi về chỗ, tôi giơ phù hiệu của mình cho mẹ thấy. Thật là kỳ diệu, nụ cười hạnh phúc mà tôi đã không bao giờ thấy lại từ cái ngày trên bờ biển, giờ đây lại xuất hiện. Nụ cười rạng rỡ đã bao trùm lấy mẹ, xóa tan đi nỗi buồn đau, và lần này nó nói rằng “Cuối cùng, con đã tìm thấy được chính mình”. Vào cái giây phút ấy trông mẹ như thể chưa hề biết đến thất vọng trong đời.

Từ đó về sau còn có thật nhiều ngày hạnh phúc cho mẹ, đó là ngày anh tôi tốt nghiệp đại học, tôi nhận bằng tốt nghiệp, sự ra đời của những đứa cháu. Nhưng tôi vẫn không bao giờ thấy được nụ cười đó nữa, tôi nghĩ rằng mình biết lý do tại sao.

Khi mẹ ngồi ở hàng ghế khán giả vào ngày tôi được bổ nhiệm vào đội cứu hỏa, mẹ biết rằng, cuối cùng tôi đã bước hẳn vào đời, với những bước đi vững chắc. Đó là một nụ cười dành cho cả cuộc đời, nụ cười đó đã nói: “Sứ mệnh của mẹ cuối cùng đã hoàn thành”.

Dennis Smith
Nhị Tường dịch từ Reader’s Digest
Từ trang Quangduc.

24 July 2010 at 14:57

Posted by TiCoNuong - Category: Suy Ngẫm

Comments: 1 Comment

TiCoNuong ASKED :

Khi bạn tranh luận với ai, trái tim hai người sẽ có khoảng cách, vì thế đừng nói điều gì làm tổn thương nhau.

Một vị thánh đã hỏi các đồ, đệ của mình: “Tại sao chúng ta lại phải hét vào nhau khi giận dữ?”. Các đồ đệ suy nghĩ một lúc và trả lời rằng: “Bởi vì chúng ta mất bình tĩnh nên mới có hành động như thế!”

“Nhưng tại sao chúng ta lại phải hét to như thế trong khi có thể nói những lời nhẹ nhàng với nhau?”, vị thánh lại hỏi.

Các đồ đệ lần lượt đưa ra những câu trả lời khác nhau, nhưng không một ai có lời giải đúng cả. Cuối cùng vị thánh giải thích: “Khi hai người giận dữ với nhau, trái tim họ có một khoảng cách rất lớn. Để rút ngắn khoảng cách đó, họ phải hét thật lớn để có thể nghe thấy nhau. Và khi họ càng giận dữ, khoảng cách càng lớn nên họ phải càng hét thật to”.

Sau đó vị thánh lại hỏi các học trò mình: “Việc gì xày ra khi hai người yêu nhau lại giận nhau? Họ sẽ không hét vào nhau mà nói những lời nhẹ nhàng. Tại sao? Bởi vì trái tim họ rất gần nhau. Khoảng cách giữa họ rất ngắn”.

Vị thánh tiếo tục nói: “Khi họ yêu nhau nhiều hơn nữa, việc gì sẽ xảy ra? Họ không nói, chỉ thì thầm và cảm giác như rất gần. Cuối cùng, họ không cần nói hay thì thầm gì nữa, chỉ nhìn nhau và đó là tất cả”.

Bài học: Khi bạn tranh luận với ai, trái tim hai người sẽ có khoảng cách, vì thế đừng nói điều gì làm tổn thương nhau, bởi sẽ có một ngày khoảng cách giữa hai người trở nên rất lớn, tới mức không thể quay về như trước nữa.

(Phương Đông)

23 July 2010 at 16:18

Posted by TiCoNuong - Category: Suy Ngẫm

Comments: 0 Comments

Ngày xưa, tại một thung lũng nọ, có một cậu bé sống trong một gia đình rất nghèo.

Hằng ngày, cậu và gia đình phải dậy từ rất sớm để ra đồng làm việc.

Một hôm, sau buổi làm việc, cậu bé xin cha được ở lại để ngắm hoàng hôn trên cánh đồng. “Hoàng hôn thật đẹp!” – đó là điều đầu tiên cậu bé thốt lên khi nhìn thấy mặt trời đang lặn.

Mặt trời lúc này như một hòn lửa khổng lồ. Ánh sáng đỏ rực phát ra như bao trùm lấy vạn vật. Mọi thứ dường như được nhuộm một màu đỏ cuả hoàng hôn. Bất chợt, cậu bé nhìn thấy một màu vàng lóe lên tận chân trời. Thì ra đó là ánh sáng phát ra từ những ô cửa ở cuối cánh đồng.

- Sao những ô cửa đó lại màu vàng nhỉ? – cậu bé thầm nghĩ.

- Chắc là những ô cửa đó làm bằng vàng, vậy thì cả ngôi nhà đó chắc cũng làm bằng vàng, sao lại có cả một ngôi nhà bằng vàng nhỉ? – cậu bé tiếp tục với những suy nghĩ của mình.

Để trả lời những thắc mắc đó, ngày hôm sau cậu bé quyết định đi đến cuối cánh đồng để được tận mắt xem ngôi nhà bằng vàng ấy.

Sáng hôm sau, cậu bắt đầu khởi hành. Đi, đi mãi. Cuối cùng cậu cũng đến nơi. Bây giờ trời đã xế chiều, hoàng hôn bắt đầu buông xuống. Sắc đỏ lại bao trùm tất cả. Ngước mắt nhìn lên, cậu bé ngạc nhiên khi trước mặt mình không phải là một ngôi nhà bằng vàng, mà chỉ là một ngôi nhà bình thường như chính ngôi nhà của cậu. Nhà được lợp ngói đỏ, những ô cửa sổ cũng không làm bằng vàng. Thất vọng, cậu quay lưng bỏ về. Bất ngờ, cậu lại nhìn thấy những ô cửa sổ màu vàng ở cuối cánh đồng hướng về phía nhà mình. Ánh sáng vàng nơi cuối chân trời hắt ra từ những ô cửa sổ nhà cậu. Cậu bé chợt nhận ra không phải là những ô cửa sổ làm bằng vàng, mà là ánh sáng lúc hoàng hôn chiếu vào những ô cửa hắt ra mà thôi.

Chẳng cần phải di đâu xa để tìm kiếm. Cũng như cậu bé này, nhiều người vẫn cứ mãi kiếm tìm hạnh phúc ở nơi nào đó xa xôi mà họ lại quên mất hạnh phúc ở ngay xung quanh mình.

Cao Thị Ánh Ngọc
(muctim online)

21 July 2010 at 13:28

Posted by TiCoNuong - Category: Suy Ngẫm

Comments: 0 Comments



Ngày xưa, có vị vua cai trị cả một vương quốc rộng lớn. Vào ngày nọ, ông quyết định đến thăm những vùng đất xa xôi của đất nước.

Khi quay trở về cung điện, nhà vua phàn nàn rằng chân của mình rất đau, bởi vì đây là lần đầu tiên ông phải đi một chặng đường dài như thế và những con đường mà ông đi qua đều gập ghềnh, đầy sỏi đá. Nhà vua ra lệnh cho tất cả mọi người trong vương quốc hãy bao phủ tất cả các con đượng lại bằng da của súc vật. Tuy nhiên, để làm được điều này phải cần hàng ngàn da cừu và tốn nhiều tiền của.

Một vị quan đại thần thong thái đã dũng cảm đến gặp nhà vua và nói: “Tại sao hoàng thượng lại phải tốn tiền và công sức vào những điều không cần thiết như thế? Tại sao ngài không cắt một miếng da cừu để bọc đôi chân của mình lại?”

Nhà vua rất ngạc nhiên trước những lời nói của vị quan đại thần này. Ông suy nghĩ một lúc và quyết định sai mọi người làm cho mình một đôi giày bằng da cừu.

Bài học rút ra từ câu chuyện này là: đôi khi trong cuộc sống, để biến thế giới này thành một nơi hạnh phúc, thì cách tốt nhất là nên thay đổi chính bản thân mình, trái tim mình, chứ đừng bao giờ bắt cả thế giới thay đổi theo ý muốn của bạn.

(Phương Đông)

20 July 2010 at 10:44

Posted by TiCoNuong - Category: Suy Ngẫm

Comments: 0 Comments